Hiện tượng trái đất nóng lên là gì? Nguyên nhân, hậu quả và cách hạn chế hiện tượng nóng lên toàn cầu

Người đăng: John Nguyen

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những lợi ích thấy rõ, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều hệ lụy tiêu cực, một trong số đó phải kể đến đó là hiện tượng trái đất nóng lên hay còn gọi là sự nóng lên toàn cầu. Để hiểu rõ hơn, hãy cùng Dự Báo Thời Tiết tìm hiểu chi tiết nhé!

MỤC LỤC
 

Hiện tượng trái đất nóng lên là gì?

Ấm lên toàn cầu hay nóng lên toàn cầu, là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên theo các quan sát trong các thập kỷ gần đây.( theo Wikipedia)

Trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2 °C.

Biểu hiện của hiện tượng

  • Thời tiết đang ngày càng trở nên khắc nghiệt

Khắp các châu lục trên thế giới đang phải đối mặt, chống chọi với các hiện tượng thời tiết cực đoan: lũ lụt, khô hạn, nắng nóng, bão tuyết…
Thực tế cho thấy rằng, chúng ta đã và đang phải đón nhận những mùa mưa dữ dội hơn vào mùa hè, bão tuyết khủng khiếp hơn vào mùa đông, nắng nóng, khô hạn ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn.

  • Nước biển tăng cao và đang dần ấm lên

Mực nước biển dâng với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm trong thế kỷ qua.  Từ năm 1993 - 2000, mực nước biển đã dâng vào khoảng 2,9 - 3,4 ± 0,4 - 0,6 mm/năm, chủ yếu là hậu quả của sự giãn nở nhiệt, nóng lên và tan chảy của các tảng băng. Chính vì vậy, lượng nước do băng tan ở các sông băng, núi băng đã bổ sung thêm một lượng lớn nước vào đại dương. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, các hòn đảo hoặc vùng đất thấp có thể bị nhấn chìm.

  • Hiện tượng băng tan ở hai cực

Qua nghiên cứu thực nghiệm, vùng biển Bắc Cực nóng lên nhanh gấp 2 lần mức nóng trung bình trên toàn cầu, diện tích của biển Bắc Cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang dần thu hẹp lại. Theo trung tâm Dữ liệu Băng tuyết quốc gia Hoa Kỳ, tính đến ngày 16/9/2012, diện tích băng ở Bắc Cực chỉ còn 3,4 triệu km vuông. Nói cách khác, băng biển Bắc Cực đã bị mất 80% khối lượng của nó ở thời điểm hiện tại.

  • Nhiệt độ liên tục thay đổi

Theo thống kê, 10 năm đầu của thế kỷ XXI đánh dấu sự gia tăng nhiệt độ lớn với sức nóng kỷ lục của Trái đất. Nhiệt độ trung bình toàn cầu tính trên mặt đất và mặt biển đã tăng khoảng 0,74 độ C trong thế kỷ qua. Theo các nhà Khoa học thuộc trường ĐH tiểu bang Oregon và ĐH Harvard (Mỹ), sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận rằng, nhiệt độ Trái đất tăng cao nhất trong 11.000 năm qua và có thể còn tăng thêm 5 độ nữa trong 100 năm tới.

  • Nồng độ Carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên 

Bằng cách phân tích các bong bóng khí trong băng ở Nam Cực và Greenland, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận rằng, 650.000 năm qua, nồng độ khí carbon dioxide (CO2) dao động từ 180 - 300ppm (đơn vị đo lường để diễn đạt nồng độ theo khối lượng, tính theo phần triệu). Việc phân tích các đồng vị của carbon trong khí quyển cho thấy sự gia tăng CO2 trong khí quyển là kết quả của việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và đốt rừng, chứ không phải là kết quả của quá trình tự nhiên. 

Carbon dioxide là khí nhà kính, làm tăng tính hiệu ứng nhà kính của khí quyển và do đó dẫn đến sự nóng lên của Trái đất.

Hậu quả của hiện tượng trái đất nóng lên

  • Thay đổi mực nước biển toàn cầu

Nước biển giảm

Hơn một thế kỷ qua, mực nước biển đã tăng lên từ 4-8 inch và vào năm 2100, nó sẽ dâng lên khoảng 35 inch. Đó là hậu quả của việc nóng lên toàn cầu khiến cho các lớp băng tan chảy, nước đổ dồn về đại dương. Một sự gia tăng như thế sẽ làm cho nhiều vùng thấp, như vùng bờ biển Vịnh Hoa Kỳ và Bangladesh, cũng như các đảo, như Lakswadweep, sẽ chìm dưới nước. Nếu toàn bộ các dải băng Nam Cực tan chảy, mực nước biển toàn cầu dự kiến sẽ tăng 10,5 mét.

  • Thay đổi mạnh mẽ các mô hình khí hậu 

Đối với lượng mưa: nó sẽ tăng ở các vùng xích đạo, vùng cực và các vùng cận cực và giảm ở các vùng á nhiệt đới. Điều này sẽ gây ra hạn hán ở một số vùng, trong khi lũ lụt ở các vùng khác.

Đối với nhiệt độ của nước biển: Trái đất càng nóng, nhiệt độ của nước biển càng tăng dẫn đến các thiên tai như bão, cuồng phong…

Nói chung, hành tinh sẽ chịu các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đặc trưng bởi lũ lụt và hạn hán, các đợt nắng nóng và các đợt lạnh, và các cơn bão khắc nghiệt như bão và lốc xoáy.

  • Sự tuyệt chủng của các loài động, thực vật 

Sự tuyệt chủng của các loại động vật

Biến đổi khí hậu sẽ làm mất môi trường sống cho nhiều loài động vật như gấu Bắc cực và ếch nhiệt đới. Quan trọng hơn, bất kỳ sự thay đổi trong mô hình khí hậu nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến các mô hình di cư của các loài chim khác nhau. Các mô hình bất thường của lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến động vật và con người như nhau.
Theo Ủy ban Liên chính phủ về (IPCC), việc tăng nhiệt độ toàn cầu bằng 1,5-2,5 độ sẽ làm cho 20-30 phần trăm của các loài dễ bị tuyệt chủng, trong khi tăng khoảng 3,5 độ sẽ làm cho 40-70 phần trăm loài dễ bị tuyệt chủng.

  • Ảnh hưởng nặng nề tới con người 

Sự nóng lên toàn cầu sẽ tác động đến việc cung cấp nước và thực phẩm cũng như các điều kiện y tế của chúng ta. Thay đổi về lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu cơ bản như nông nghiệp, sản xuất điện vv… Tăng nhiệt độ của nước biển sẽ cản trở các hoạt động thủy sản.

Các bệnh truyền nhiễm sẽ tăng lên vì các côn trùng truyền bệnh sẽ thích nghi với ẩm ướt, điều kiện nóng. Nhiều người sẽ chết vì suy dinh dưỡng vì sản xuất lương thực sẽ giảm do hạn hán và lũ lụt thường xuyên.

Không khí bị ô nhiễm gây nhiều tác hại đến đời sống của con người, đặc biệt là trong sinh hoạt và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe. Theo dự đoán, số lượng bệnh nhân hen suyễn và các bệnh về phổi  dự kiến sẽ tăng đến 10% tại các đô thị lớn.

Thực trạng của hiện tượng trái đất nóng lên 

Các nhà khoa học tin rằng trái đất bắt đầu nóng lên kể từ năm 1950 do hiệu ứng nhà kính. Nếu sự phát thải không được kiểm soát, giới khoa học tin rằng nhiệt độ trái đất có thể tăng quá 4,5 độ C. Mức nhiệt này sẽ làm biến đổi hành tinh của chúng ta và suy yếu khả năng hỗ trợ của trái đất cho một lượng dân số khổng lồ.

Theo các nhà khoa học thuộc Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA), trong giai đoạn 1880 – 2013, chỉ trong vòng 13 năm kể từ năm 2000, trái đất đã xuất hiện 9 năm có mức nhiệt độ trung bình cao kỷ lục.

Theo số liệu của Cơ quan Khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ (NOAA), nhiệt độ trung bình toàn cầu trong năm 2013 là 14,52oC, cao hơn 0,62oC so với mức nhiệt độ trung bình trong thế kỷ 20, năm 2014 cao hơn 0,8oC so với năm 1880.

Theo báo cáo của Tổ chức Khí tượng học thế giới (WMO) thuộc Liên hợp quốcTổng Thư ký WMO Petteri Taalas nhận định, dù không bị tác động nhiều bởi hiện tượng El Nino, song 2017 vẫn là năm nóng nhất.

Tình trạng này đã kéo nhiệt độ tại Bắc Cực tăng bất thường trong năm 2018, trong khi châu Âu và Bắc Mỹ hứng chịu mùa Đông lạnh giá hơn.Thực tế, Australia và Argentina đã hứng chịu nhiều đợt nắng nóng với nền nhiệt cao, trong khi hạn hán vẫn tiếp diễn tại một số nước châu Phi như Kenya, Somalia và thành phố Cape Town của Nam Phi.     

(Theo báo Môi trường và Đô thị)

Cần làm gì để hạn chế hiện tượng nóng lên toàn cầu?

  • Giảm thiểu rác thải và tái chế chúng

Việc đốt cháy các loại rác thải sẽ làm sản sinh ra khí CO2, đó cũng là một trong những tác nhân chính đe dọa sự an toàn của bầu khí quyển. Bằng việc tái chế một nửa chất thải gia đình, bạn có thể tiết kiệm 2400 pound carbon dioxide mỗi năm. 

  • Lái xe ít hơn làm giảm nóng lên toàn cầu

Lái xe ít hơn=lượng khí thải ít hơn. Ngoài ra, đi bộ hoặc đi xe đạp còn là những hình thức giúp rèn luyện sức khỏe .

  • Tiết kiệm nguồn năng lượng

Từ những việc đơn giản như tắt điện, khóa vòi nước, tắt tivi, máy tính khi không sử dụng cũng là hành động nhỏ góp phần bảo vệ hành tinh của chúng ta . 

  • Trồng cây góp phần làm giảm nóng lên toàn cầu

Trồng cây xanh

Ai cũng hiểu rằng trong quá trình quang hợp, cây lấy đi CO2 và trả lại bằng oxi. Nhưng hiện nay cây cối đang dần mất đi, thay vào đó là hàng tấn khí thải từ xe cộ, nhà máy, điều này tác động trực tiếp tới tương lai của hành tinh, sẽ chẳng còn “ xanh” như ta thường nghĩ về.

  • Hạn chế sử dụng túi nilon 

Túi nilon được coi như khắc tinh muôn thuở của trái đất bởi chúng phải tốn hàng trăm, hàng nghìn năm mới có thể phân hủy và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống của con người. Hơn thế nữa, trong quá trình sản xuất túi nilon còn cần dùng tới dầu mỏ, khí đốt, kim loại nặng, hóa chất, phẩm màu… đều là những thứ có hại về mọi mặt.

Hạn chế sử dụng túi ni-lon

  • Khai thác các nguồn năng lượng mới

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ ngày càng cạn kiệt nếu như con người không tìm kiếm thêm nguồn nhiên liệu mới. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, các chuyên gia đã khai phá ra những nguồn năng lượng mới an toàn với môi trường như năng lượng từ mặt trời, gió, nhiệt, sóng biển và ethanol từ cây trồng, hydro từ quá trình thủy phân nước,…

  • Ứng dụng công nghệ mới trong việc bảo vệ trái đất

Hiện nay các nhà khoa học đang tiến hành những thử nghiệm mới như quá trình can thiệp kỹ thuật địa chất hay kỹ thuật phong bế mặt trời… nhằm giảm hiệu ứng nhà kính. Ngoài các giải pháp này, các nhà khoa học còn tính đến kỹ thuật phát tán các hạt sulfate vào không khí để nó thực hiện quá trình làm lạnh bầu khí quyển như quá trình phun nhan thạch của núi lửa, hoặc lắp đặt hàng triệu tấm gương nhỏ để làm chệch ánh sáng mặt trời cho tới việc bao phủ vỏ trái đất bằng các màng phản chiếu để khúc xạ trở lại ánh sáng mặt trời, tạo ra các đại dương có chứa sắt và các giải pháp tăng cường dưỡng chất giúp cây trồng hấp thụ nhiều CO2 hơn…

Môi trường là chính cuộc sống của chúng ta, vì thế cần phải hành động ngay, áp dụng các biện pháp vào thực tiễn để đẩy lùi ô nhiễm, ngăn ngừa biến đổi khí hậu có thể xảy ra. Khi môi trường trong xanh thì mới đem lại sự phát triển toàn diện, bền vững cho nền kinh tế, xã hội và cuộc sống của người dân. 

Bài viết cùng chủ đề